Chuối tiêu từng được mệnh danh là "quả trí tuệ". Theo truyền thuyết, tên gọi này bắt nguồn từ việc Phật tổ Thích ca Mầu ni sau khi ăn chuối tiêu chợt bừng sáng trí tuệ.
Theo một truyền thuyết khác, chuối tiêu có nguồn gốc từ Ấn Độ, các học giả Ấn Độ thường bàn luận các vấn đề triết học, y học... dưới gốc chuối tiêu, đồng thời lấy loại quả này làm thức ăn duy nhất. Vì vậy, người ta gọi chuối tiêu là: "Nguồn trí tuệ".
Các nhà y học trong lịch sử Trung Quốc cho rằng: Chuối tiêu tính hàn, vị ngọt, không độc, có tác dụng giảm phiền khát, nhuận phổi, nhuận tràng, thông huyết mạch, bổ tinh tủy, dùng để chữa các chứng bệnh táo bón, khô khát, say rượu, sốt, viêm gan vàng da, sưng tấy... Quả tươi, dầu chuối, hoa chuối, lá chuối, củ chuối và cả chuối hột... đều có thể dùng làm thuốc.
Y học hiện đại qua nghiên cứu đã chứng minh rằng: Chuối tiêu giàu chất dinh dưỡng, chứa nhiều protein, lipid, đường, cenlulose, kali, canxi, sắt, phốt pho, các vitamin A, B, C, E... Chuối tiêu ít natri, không có cholesterol, nhiệt lượng thấp hơn các loài hoa quả nói chung, ăn thường xuyên cũng không gây béo phì.
Một nhà dinh dưỡng học người Đức còn phát hiện, chuối tiêu có tác dụng điều trị nhất định đối với các bệnh về tâm thần như dễ kích động, trầm uất..., gây tâm lý vui vẻ, yên tâm, thậm chí giảm nhẹ nỗi đau khổ, điều tiết trạng thái tinh thần.
Ở Mỹ, qua nghiên cứu thực nghiệm, các nhà khoa học nhận thấy, nếu mỗi ngày ăn 1-2 quả chuối tiêu đều đặn, có thể giảm bớt các triệu chứng tai biến mạch máu não (trúng phong), cao huyết áp... do chuối có hàm lượng kali cao. Người Anh còn phát hiện chuối tiêu xanh có tác dụng phòng và chữa bệnh loét dạ dày rõ rệt. Vỏ chuối tiêu có tác dụng trị nấm, vi khuẩn; đem sắc vỏ chuối lấy nước rửa có thể trị hắc lào, viêm ngứa da. Hoa chuối tiêu đem đốt lấy tro toàn tính, tán bột, hòa nước muối có thể trị được bệnh đau dạ dày. Lá chuối tiêu giã, trộn nước gừng đắp vào chỗ sưng do nhiễm trùng, có công hiệu tiêu viêm, giảm đau.
Dầu chuối có tác dụng chữa phong nhiệt, phiền khát, bôi chữa vết bỏng da. Việc chải đầu bằng dầu chuối giúp chữa chứng tóc khô vàng, làm đen tóc.
Việc ăn chuối quả thường xuyên có tác dụng hạ huyết áp, rất hợp với người bị mắc bệnh cao huyết áp, trĩ chảy máu, táo bón. Củ chuối chứa chất phenol. Nước củ chuối có tác dụng nhanh chóng hạ sốt đối với người mắc bệnh "viêm não B" bị sốt cao, chữa mụn nhọt.
Chuối tiêu tính hàn cho nên người bị bệnh tỳ vị hư hàn, tiêu chảy không nên ăn nhiều.
Một số bài thuốc dùng chuối tiêu:
- Cao huyết áp: Ngày ăn 3 lần, mỗi lần 1-2 quả, liền trong 2 tháng.
- Loét dạ dày: Chuối xanh sấy khô, tán thành bột, ngày uống 3 lần, mỗi lần 6 gam.
- Ngứa da: Sắc vỏ chuối lấy nước rửa.
- Bỏng da: Dùng dầu chuối bôi, ngày 1-3 lần.
- Táo bón: Quả chuối 250 gam, ăn trước khi ngủ.
- Mụn nhọt: Lá chuối tiêu tươi giã nát, vắt lấy nước bôi.
- Nứt nẻ da chân tay: Chuối tiêu 1 quả, chuối nhừ càng tốt, sấy nóng. Mỗi buổi tối rửa tay chân bằng nước ấm, xoa chuối vào chỗ đau, dùng liên tục sẽ khỏi.
Thursday, March 31, 2016
Quả lê chữa bệnh - chuyện xưa và nay
Chuyện xưa kể lại rằng: Vua Đường Huyền Tông từng bị ho nhiều đờm, khó chịu trong lồng ngực, họng khô, miệng khát, giọng khản đặc, thầy thuốc trong cung chữa mãi không khỏi. Nhà vua giận lắm, ra lệnh cho ngự y trong bảy ngày phải chữa khỏi, nếu không sẽ nghiêm trị. Các thầy thuốc trong cung ăn ngủ không yên, thấp thỏm chờ ngày mất đầu.
Một ngự y già lo sợ sinh ốm, nằm liệt giường. Học trò đem lê đến thăm thầy. Khi biết lý do thầy ngã bệnh, anh học trò phẫn uất định đầu độc Đường Huyền Tông, bèn bảo vợ thầy thái vụn lê, nấu kỹ thành cao, còn mình đi mua thuốc độc định đem về trộn vào để hại vua. Khi mua được thuốc độc trở về thì không thấy vợ thầy và món cao lê đâu. Thì ra bà vợ đợi lâu sốt ruột, sai con đem luôn vào cung. Nào ngờ nhà vua ăn món này xong, bệnh lại khỏi ngay. Vua vui mừng trọng thưởng cho hai thầy trò ngự y già.
Tác dụng trị ho, tiêu đờm của lê xưa nay đã được thừa nhận. Việc ăn lê giúp nhuận phổi, giáng hỏa, sinh tân dịch, dưỡng huyết, chữa khản tiếng, nhuận tràng, chữa nhọt, giã rượu với hiệu quả khá cao.
Theo phân tích khoa học, quả lê chứa protein, lipid, cenlulose, canxi, phốt pho, sắt, caroten, vitamin B1, B2, C, đường gluco, axít acetic... Việc ăn lê thường xuyên có tác dụng tốt trong điều trị bệnh cao huyết áp, tim mạch (dẫn tới váng đầu hoa mắt, tim đập loạn nhịp, ù tai), lao phổi, viêm phế quản cấp tính. Hàm
lượng vitamin, đường khá phong phú trong quả lê có tác dụng bảo vệ gan, dưỡng gan và lợi tiêu hóa khá tốt.
Do lê có tính hàn nên người bị bệnh đau lạnh bụng, đi lỏng không nên dùng; không ăn lê bị dập nát để tránh mắc bệnh đường ruột.
Các bài thuốc dùng quả lê:
- Ho khan do phế nhiệt: Lê vài quả bỏ hạt, giã nhỏ, cho đường phèn vào trong, hấp cách thủy đến khi tan đường thì ăn; thuốc có tác dụng thanh nhiệt, giảm ho.
- Ho nhiều đờm lẫn máu: Lấy 1,5 kg lê bỏ hạt, ninh thành cao, cho mật ong với lượng vừa phải vào trộn đều. Mỗi lần lấy ra 2- 3 thìa con hòa nước sôi uống. Thuốc có tác dụng nhuận phổi, sinh tân dịch, tan đờm.
- Ợ hơi: Lê 1 quả, đinh hương 15 hạt, đem bỏ hạt lê, cho đinh hương vào trong, bọc 4-5 lần giấy ướt, om nhừ để ăn.
- Viêm khí quản: Lê 2 quả, bột xuyên bối 10 gam, đường phèn 30 gam. Bỏ hạt lê, cho bột xuyên bối và đường phèn vào trong quả lê, hấp ăn ngày 2 lần vào sáng sớm và tối.
- Đau mắt sưng đỏ: Ngâm hoàng liên vào nước lê ép, nhỏ vào mắt ngày vài lần.
- Tiêu đờm, thông đại tiện: Dùng nước lê, nước củ ấu, nước rễ cỏ tranh, nước hạt mạch, nước ngó sen khuấy đều, uống nguội hoặc đun nóng.
- Chữa hôi miệng: Trước khi ngủ ăn 2 quả lê.
- Trẻ em bị phong nhiệt, chán ăn: Lê 3 quả rửa sạch, thái miếng, đổ 3 lít nước, đun đến khi cạn còn 1 lít, bỏ bã, đổ gạo vào nấu cháo cho trẻ ăn.
Một ngự y già lo sợ sinh ốm, nằm liệt giường. Học trò đem lê đến thăm thầy. Khi biết lý do thầy ngã bệnh, anh học trò phẫn uất định đầu độc Đường Huyền Tông, bèn bảo vợ thầy thái vụn lê, nấu kỹ thành cao, còn mình đi mua thuốc độc định đem về trộn vào để hại vua. Khi mua được thuốc độc trở về thì không thấy vợ thầy và món cao lê đâu. Thì ra bà vợ đợi lâu sốt ruột, sai con đem luôn vào cung. Nào ngờ nhà vua ăn món này xong, bệnh lại khỏi ngay. Vua vui mừng trọng thưởng cho hai thầy trò ngự y già.
Tác dụng trị ho, tiêu đờm của lê xưa nay đã được thừa nhận. Việc ăn lê giúp nhuận phổi, giáng hỏa, sinh tân dịch, dưỡng huyết, chữa khản tiếng, nhuận tràng, chữa nhọt, giã rượu với hiệu quả khá cao.
Theo phân tích khoa học, quả lê chứa protein, lipid, cenlulose, canxi, phốt pho, sắt, caroten, vitamin B1, B2, C, đường gluco, axít acetic... Việc ăn lê thường xuyên có tác dụng tốt trong điều trị bệnh cao huyết áp, tim mạch (dẫn tới váng đầu hoa mắt, tim đập loạn nhịp, ù tai), lao phổi, viêm phế quản cấp tính. Hàm
lượng vitamin, đường khá phong phú trong quả lê có tác dụng bảo vệ gan, dưỡng gan và lợi tiêu hóa khá tốt.
Do lê có tính hàn nên người bị bệnh đau lạnh bụng, đi lỏng không nên dùng; không ăn lê bị dập nát để tránh mắc bệnh đường ruột.
![]() |
| Quả lê chữa bệnh |
Các bài thuốc dùng quả lê:
- Ho khan do phế nhiệt: Lê vài quả bỏ hạt, giã nhỏ, cho đường phèn vào trong, hấp cách thủy đến khi tan đường thì ăn; thuốc có tác dụng thanh nhiệt, giảm ho.
- Ho nhiều đờm lẫn máu: Lấy 1,5 kg lê bỏ hạt, ninh thành cao, cho mật ong với lượng vừa phải vào trộn đều. Mỗi lần lấy ra 2- 3 thìa con hòa nước sôi uống. Thuốc có tác dụng nhuận phổi, sinh tân dịch, tan đờm.
- Ợ hơi: Lê 1 quả, đinh hương 15 hạt, đem bỏ hạt lê, cho đinh hương vào trong, bọc 4-5 lần giấy ướt, om nhừ để ăn.
- Viêm khí quản: Lê 2 quả, bột xuyên bối 10 gam, đường phèn 30 gam. Bỏ hạt lê, cho bột xuyên bối và đường phèn vào trong quả lê, hấp ăn ngày 2 lần vào sáng sớm và tối.
- Đau mắt sưng đỏ: Ngâm hoàng liên vào nước lê ép, nhỏ vào mắt ngày vài lần.
- Tiêu đờm, thông đại tiện: Dùng nước lê, nước củ ấu, nước rễ cỏ tranh, nước hạt mạch, nước ngó sen khuấy đều, uống nguội hoặc đun nóng.
- Chữa hôi miệng: Trước khi ngủ ăn 2 quả lê.
- Trẻ em bị phong nhiệt, chán ăn: Lê 3 quả rửa sạch, thái miếng, đổ 3 lít nước, đun đến khi cạn còn 1 lít, bỏ bã, đổ gạo vào nấu cháo cho trẻ ăn.
By:
Unknown
On 5:59 PM
Tuesday, February 16, 2016
Carbonhydrat (Glucid)
Glucid
là hợp chất hữu cơ gồm những monosaccharid, các dẫn chất và các sản phẩm ngưng
tụ của chúng. Glucid có thể được chia làm 3 nhóm:
Monosaccharid, Oligosaccharid
và Polisaccharid.
1
Monosaccharid
Monosaccharid
(đường đơn) thường tập trung Ở quả nên các dịch quả thường được dùng làm nước
giải khát, bổ dưỡng cơ thể.
2.
Oligosaccharid
Oligosaccharid
là những glucid khi thủy phân sẽ cho từ 1 - 6 đường đơn loại này thường tổn tại
trong thực vật các bộ phận như thân (mía), củ (củ cải đường). Do đó, chúng thường
dùng để sản xuất đường kính (saccharose).
3.
Polisaccarid
Polisaccarid
là các glucid có phân tử lượng rất lớn gồm nhiều monosaccharid liên kết với
nhau. Đại diện điển hình cho nhóm này là: Tinh bột, Celulose, gôm... . Tinh bột
là sản phẩm của sự quang hợp Ở cây xanh. Trong tế. bào thực vật các hạt lạp
không màu là nơi tạo ra tinh bột, các : glucid hòa tan kéo đến hạt lạp không
màu để dự trữ dưới dạng tinh bột. Tinh bột thường tập trung Ở các bộ phận như
củ, rễ củ, quả, thận cây với những hàm lượng khác nhau. Trong quá trình sinh trưởng
của cây, dưới tác động của enzym trong cây, tinh bột sẽ biến thành đường đơn ở
dạng hòa tan được và chuyển đến các bộ phận khác nhau của cây. Tinh bột là một loại nguyên liệu rất quan trọng trong
ngành được để sản xuất ethanol và làm tá dược trong sản xuất thuốc viên.
By:
Unknown
On 7:38 PM
Sunday, February 14, 2016
Alcaloid
Alcaloid
là những hợp chất hữu cơ có chứa N, đa số có nhân dị vòng, có phản ứng kiềm, thường
gặp trong thực vật, đôi khi trong động vật thường có dược lực tính rất mạnh và
cho những phản ứng hóa học với một số thuốc thử chung của alcaloid.
Một
số chất, N không thuộc dị vòng mà Ở mạch nhánh như ephedrin trong cây Ma hoàng
.(Ephedra sinica Stapf.), capsaicin trong quả cây ớt (Capsicum annuum L.), hordenin
trong mầm cây Mạch nha (Hordenum sativum Jess.), colchicin trong hạt cây Tỏi
độc (Colchicum autumnale L.), có chất phản ứng kiềm nhẹ như ricinin trong hạt
Thầu dầu, theobromin trong cacao và có chất phản ứng acid yếu như arecaidin
trong hạt cau cũng được xếp vào alcaloid.
Alcaloid
có phổ biến trong thực vật, nó thường ở trong dịch tế bào dưới dạng muối với
acid hữu cơ, lúc đầu mới hình thành alcaloid nằm trong các bộ phận đang phát
triển của cây (mầm, chồi ngọn) sau chuyển ra các bộ phận khác của cây. Người ta
đã. biết khoảng trên 6.500 alcaloid từ hơn 5.000 loài, chủ yếu là thực vật.bậc
cao, thuộc lớp cây hai lá mầm, thường gặp ở một số họ. như họ Thuốc phiện (Papaveraceae),
họ Mao lương (Ranumculaceae.), . họ Cà phê
(Rubiaceae), họ Mã tiền (logamaceae), họ Trúc đào' (Apocynaceae), họ Cà
(Solanaceae); Ở cây một lá mầm tìm thấy nhiều alcaloid thuộc họ Hành tỏi
(Lihaceae); còn thực vật bậc thấp mới tìm thấy Ở một vài loài nấm như nấm Cựa
khỏa mạch (Claviceps purpurea Tul.); nấm Amanita phaloides. Ngoài ra một số ít
động vật cũng có alcaloid như samandrin, samandaridin lấy từ con Salamand
maculosa hoặc Salamandra altra, bufothionin lấy từ Bufo formosla.
Alcaloid
có trong các bộ phận khác nhau của cây như ở hạt (cây Mã tiền, Cà phê), Ở quả
(cây ớt, Thuốc phiện), ở hoa (cây Cà độc dược), Ở lá (cây Beliadon, Co ca), Ở
thân (cây Ma hoàng), vỏ thân (cây Canhkina, Mộc hoa trắng), Ở rễ (cây Lựu, Ba
gạc), Ở củ (cây Ô dầu, Bình vôi).
Tỷ
lệ alcaloid trong cây thường rất thấp vì phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau,
nhưng cũng có một số ít cây chứa tỷ lệ alcaloid cao như trong cây Canhkina 7 -
10%, nhựa quả cây Thuốc phiện 20 - 30%. Đa số alcaloid ở thể rắn (alcaloid có
oxy) như morphin, codein,strychnin, quinin; một số ít ở thể lỏng (alcaloid
không có oxy) như nicotin, spartein, những alcaloid này thường bay hơi được,
bền vững ở nhiệt độ sôi .
Tác
dụng của alcaloid rất khác nhau, có chất kích thích hệ thần kinh trung ương như
strychnin, cafein; có chất ức chế thần kinh trung ương như morphin, reserpin;
kích thích thần kinh giao cảm như ephedrin, hordenin; làm liệt giao cảm như ergotamin,
yohimbin; kích thích phó giao cảm như pilocarpin, eserin; làm liệt phó giao cảm
như atropin, hyoscyamin; phóng bế hạch giao cảm như nicotin, spartein; làm tăng
huyết áp như ephedrin, hydrastin; làm hạ huyết áp như reserpin, yohimbin; gây
tê tại chỗ như cocain; tác dụng trên tim như quinidin, afagarin; diệt ký sinh
trùng như quinin trị sốt rét; emetin, conexin chữa lỵ amib, isopellerin trị
sán.
By:
Unknown
On 7:28 PM
Acid hữu cơ trong dược liệu
Acid
hữu cơ là những hợp chất hữu cơ chứa nhóm chức carboxyl
(-COOH)
và có công thức chung là: O
R -C
Trong đó: R là gốc hydrocarbon. OH
Các
dược liệu có hàm lượng acid hữu cơ cao thì thấy vị chua rõ rệt, nó thường tập
trung Ở quả như: quả Chanh, quả Cam, quả Mơ, quả me; Ở lá như: lá Sáu, lá Đào,
lá Me... Các acid trong dược liệu thường tồn tại dưới dạng tự do, muối kim
loại, muối hữu cơ hoặc ester. Các acid hữu cơ thường gặp là acid citric có
nhiều trong quả cây Chua me
(oxalls
sp.), acid cinamic có nhiều trong cây Quế (Cinnamomum sp.), acid benzoic có
nhiều trong Cánh kiến trắng (Styrax benzoin Dryand.), acid aconitic có nhiều
trong cây Ô đầu (Aconitum fortunei Hemls.), acid meconic có nhiều trong quả cây
thuốc phiện (Papaver somniferum L.), acid malic trong quả cây Táo mèo (Pyrus
indica Wall), acid mandelic trong hạnh nhân đắng (Amygdalus commums), acid
quinic trong cây Canhkina (Cinchom sucspbra Pavon.)...
Khi
quả chín thì tỷ lệ đường tăng lên và có mùi thơm là do các ester như isoamyl acetat (quả chuối), ethyl butyrat (quả
dứa), amyl isovalerianat (quả táo tây).
Các
acid hữu cơ trong cây có tầm quan trọng về sinh lý đối với cây trồng, nó là
thành phần của dịch tế bào, tham gia vào quá trình chuyển hóa, tăng khả năng
chịu hạn của cây. Về mặt dược học, các acid hữu cơ có tác dụng giải nhiệt,
nhuận tràng, sát trùng nhẹ.
By:
Unknown
On 6:48 AM
Subscribe to:
Posts (Atom)





