Thursday, February 11, 2016

Chế biến dược liệu




Chế biến sơ bộ dược liệu thường được tiến hành ngay sau khi thu hái và thường có các khâu chính sau đây:

1. Chọn dược liệu
Các dược liệu thu hái về đều phải lựa chọn để lấy đúng bộ phận dùng làm thuốc đảm bảo quy cách; loại bỏ các tạp chất, các bộ phận khác của cây lẫn vào trong khi thu hái hoặc các phần nằm trong bộ phận dùng cần phải loại bỏ.
Thí dụ: Cúc hoa cần bỏ lá và cuống hoa.

2. Làm sạch dược liệu
Làm sạch dược liệu là động .tác loại bỏ các tạp chất còn. lẫn hay bám dính vào dược liệu mà khi lựa chọn không loại bỏ hết được như: đất cát bụi bặm... .
Để làm sạch dược liệu, người ta có thể áp dụng một trong cáccách sau:
Rửa bằng nước Khi rửa, cần thao tác nhanh, không nên ngâm dược liệu lâu trong nước.
Sàng, sẩy: Là nhằm loại bỏ hết tạp chất lẫn vào dược liệu cũng như các dược liệu không đảm bảo chất lượng. Phương pháp này hay được áp dụng cho các dược liệu là hạt.
Chải: Mục đích là làm sạch lớp lông bên ngoài  (tỳ bà diệp) hoặc bên trong vị thuốc (kim anh) hoặc làm sạch các tạp chất mà không rửa sạch được (mốc).
Cạo gọt: Mục đích là loại bỏ vỏ ngoài của .dược liệu (Sắn dây, củ mài).
3. Giã dược liệu
Phương pháp này nhằm mục đích là loại  các bộ phận bên ngoài dược liệu như: lông, gai... bằng cách cho dược liệu vào tròng cối rồi giã như giã gạo. Sau đó, cho vào sàng hay rổ thưa xóc cho rụng hết lông, gài như sơ chế vị Tật lê.
4. Cắt thái dược liệu
Nhiều dược liệu sau khi thu hái cần phải cắt thành khúc, đoạn ngắn (Lạc liên, Kim ngân), thái thành phiến (Thổ phục linh, Kê huyết đằng), hoặc thái thành miếng (Hà thủ Ô đỏ)... cho tiện chế biến hoặc tiện sử dụng.
5. Ngâm dược liệu      
Ngâm dược liệu trong các chất lỏng thích hợp là mục đích làm cho dược liệu mềm ra để dễ bào thái hay làm giảm độc lính cột số dược liệu độc (Mã tiền, Hoàng nàn ngâm trong nước vo gạo). Thời gian ngâm dài hay ngắn hoặc ngâm trong chất lỏng nào là tùy thuộc vào mục đích và đặc điểm của từng dược liệu.
6. Ủ dược liệu .
Ủ dược liệu là : cách làm ẩm dược liệu rồi đem ủ kín. trong thời gian nhất định. Mục đích của việc ủ dược liệu rất khác. nhau, có thể là làm cho mềm dược liệu để dễ bào thái thành phiến mỏng, có thể là làm cho men trong dược liệu hoạt động nhằm thay đổi thành phần hay tác dụng của dược liệu (Sinh địa).
7. Chưng, đồ dược liệ u
Một số dược liệu lúc thu hái về phải chế biến sơ bộ bằng cách chưng đồ hoặc nhúng nước sôi. Mục đích của việc chưng đồ dược liệu là nhằm diệt men trước khi phơi khô để dược liệu không bị men phá hoại trong quá trình bảo quản.
Thí dụ: Chế long nhãn: trước khi phơi khô hay sấy khô người ta phải nhúng qua nước sôi.

Phơi sấy dược liệu



Phơi sấy dược liệu là làm cho. dược liệu khô dần tới độ thủy phân an toàn, có như vậy mới giữ được chất lượng dược liệu và bảo quản được lâu Việc phơi sấy dược liệu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: loại dược liệu, số lượng, yêu cầu về độ thủy phân an toàn, điều kiện phương tiện... của từng cơ sở. Tuy nhiên, kỹ thuật phơi, sấy dược liệu cũng có một số điểm chung sau đây:
 
1. Phơi dược liệu
Phơi là phương pháp làm khô dược liệu bằng không khí nóng tự nhiên.
Có 4 cách phơi:
Phơi nắngtr'ên sân: Yêu cầu sân phơi phải sạch sẽ, khi phơi phải tãi mỏng dược liệu và thường xuyên đảo để dược liệu chóng khô và khô đều. Đây là phương pháp thông dụng vì có thể áp dụng cho nhiều loại dược liệu và rẻ tiền.
Phơi trong bóng râm: Thường áp dụng đốt ỵới dược liệu dễ biến màu, dễ hỏng hoạt chất, dược liệu có tinh dầu... Tùy từng loại dược liệu mà có thể tiến hành bằng cách dựng trong bóng râm hay bó thành từng bó nhỏ treo trên dây chăng trong nhà nơi cao ráo, thoáng gió để dược liệu khô dần.
Phơi trên giàn: Thường áp dụng cho các dược liệu quý hiếm, dược liệu mỏng manh (hoa) và với số lượng ít. Khi phơi phải tãi mỏng dược liệu trên các sàng hoặc khay rồi đặt lên giá để phơi
Phơi tránh bụi,ruồi nhặng: Dược liệu thờng được phơi trên giàn cao và phải dùng vải màn thưa để che đậy. Phương pháp này thường được áp dụng đối với các dược liệu có đường hay có mùi vị hấp dẫn đối với côn trùng (long nhãn, thục địa...).
2. Sấy dược liệu
Sấy là phương pháp làm khô dược liệu chủ động bằng không khí nóng trong các thiết bị khác nhau như lò sấy, tủ sấy. Trước khi tiến hành sấy, dược liệu cần được làm sạch, phân loại và sấy riêng từng loại dược liệu. Tùy từng loại dược liệu mà chọn nhiệt độ sấy thích hợp. Nói chung thì nên duy trì nhiệt độ sấy từ 40 – 70 0C, và chia làm ba giai đoạn theo nhiệt độ tăng dần:
Giai đoạn đầu sấy Ở 40 – 50oC
Giai đoạn giữa sấy Ở 50 – 60oC.
Giai đoạn cuối sấy Ở 60 – 70oC.
Riêng các dược liệu có chứa tinh dầu, hoạt chất dễ bị nhiệt độ cao phá hủy hay dược liệu chứa hoạt chất dễ bay hơi, dễ thăng hoa thì nhiệt độ sấy không được quá 40oC.

Thu hái Dược liệu




Việc thu hái dược liệu nói chung cần thực hiện theo nguyên tắc "3 đúng", đó là:
 
- Đúng dược liệu (đúng tên; đúng loài): Vì trong thực tế, tên gọi của các cây thuốc Ở các vùng miền có thể rất khác nhau. Nhiều dược liệu khác nhau nhưng tên gọi có thể giống nhau hay cùng một dược liệu lại có rất nhiều tên gọi khác nhau.
Thí dụ: Cây rau Sam còn có tên là Mã xỉ hiện; Cây Thài lài còn có tên là cây Rau trai hay Trai thường hoặc như cây Hà thủ Ô lại có Hà thủ Ô đỏ và Hà thủ Ô trắng...
- Đúng bộ phận dùng: Vì trong một cây thuốc không phải bộ phận nào của cây cũng được dùng làm thuốc. Thậm chí, có hộ phận trong cùng một cây lại là chất độc.
- Đúng thời điểm: Tỷ lệ hoạt chất chứa trong dược liệu phụ thuộc vào từng thời kỳ phát triển và sự trưởng thành của cây thuốc. Vì thế, phải thu hái đúng thời điểm mà bộ phận dùng làm thuốc chứa nhiều hoạt chất có lợi nhất. Thời điểm Ở đây không chỉ theo mùa vụ mà bao hàm cả tuổi cây (nhất là những cây mọc hoang hay sống lâu năm).
Thí dụ: Canhkina, Long não, Quế, Tam chát, Nhân sâm... Sau đây là một số nguyên tắc chung nhất trong thu hái dược liệu.

Tuy nhiên, đây không phải là nguyên tắc được áp dụng cho tất cả các dược liệu. Vì vậy, khi vận dụng trong thực tế cần phải hết sức linh hoạt và phải căn cứ vào từng dược liệu cụ thể đã được nghiên cứu thử nghiệm.


1. Thu hái dược liệu là Rễ (Radix), Thân. rễ (Rhizotna), Rễ củ (Tuber)
Nếu thu hái từ cây sống hàng năm thì thu hái lúc lá cây ngả màu vàng. quả đã chín già; nếu thu hái từ cây sống nhiều năm thì thu hái vào cuối thu sang đông là tốt nhất.
 2. Thu hái dược liệu là thân gỗ (Lignum)
Thu hái  thân cây lấy gỗ làm vị thuốc thì nên tiến. hành vào mùa đông, khi lá cây đã rụng. Lúc đó cây chứa nhiều. hoạt chát, gỗ rắn chắc nên phơi sấy sẽ nhanh khô và bảo quản được lâu. .
 3. Thu hái dược liệu là toàn cây (Herba)
Nếu sử dụng toàn cây thì nên thu hái khi cây bắt đầu ra hoa, bằng cách cắt từ phía dưới lá tươi cuối cùng của các bộ phận của cây trên mặt đất như : thân, nhánh mang lá hoa (bỏ phần thân, nhánh không còn lá và gốc rễ).
4. Thu hái dược liệu là vỏ (Cortex)
Thu hái bộ phận dùng là vỏ cây thì nên tiến hành vào mùa xuân, lúc đó vỏ chứa nhiều nhựa để nuôi cây nên có nhiều hoạt chất và dễ bóc. Đối với vỏ cành phải bóc vỏ ở các cành còn bánh tẻ
5. Thu hái dược liệu là Lá cây (Folium)
Thu hái bộ phận dùng là lá thì nên tiến hành vào lúc cây sắp ra hoa hoặc chớm ra hoa. Khi đó, lá phát triển nhất và thường chứa nhiều hoạt chát. Thu hái lấy lá bánh tẻ, để lại các lá non. Lá thu hái được phải đựng vào sọt có mắt thưa, tránh ép mạnh làm lá giập nát. hấp hơi nước và thâm đen giảm chất lượng.
 6. Thu hái dược liệu là Búp cây (Apex)
Thu hái bộ phận dùng là búp cây thì nên tiến hành vào mùa xuân khi búp đã nẩy chồi. Thu hái búp có kèm theo 1 - 2 lá non chưa xòe ra.
7. Thu h ái dựơc liệu là Hoa (Flos)
Với bộ phận dùng là hoa thì nên thu hái khi hoa săp nở hoặc chớm nở, nếu để khi hoa đã nở mới thu thì cánh hoa rất dễ rụng.. Phải hái hoa bằng tay, động tác hái nhẹ nhàng.' xếp. hoa vào rổ cứng, không xếp quá nhiều, không lèn chặt và tránh phơi nắng hoa sẽ làm hoa thâm đen giảm chất lượng.
8. Thu hái dược liệu là Quả (Fructus)
Thu hái quả mọng nên tiến hành vào lúc quả bẳt  đầu chín 'hoặc  sắp chín; có loại nên thu hái lúc còn  ương (như sa nhân). Hái quả lúc trời mát, để nguyên cuống, xếp nhẹ nhàng, tránh chèn ép vào nhau làm cho quả sẽ chóng hỏng. Đối với các quả bị bẩn phải rửa sạch bằng nước và nên thấm khô, xếp riêng để sử dụng ngay vì đã làm mất màng bảo vệ vỏ nên dễ thối. Dụng cụ đựng quả cần cứng để ồn định về hình dạng, thông thoáng, có lót đệm bằng vật liệu mềm xốp, bảo quản quả chỗ mát.
9. Thu hái dược liệu là Hạt (Se men)
Nếu bộ phận dùng là hạt thì nên thu hái khi quả đã chín già, riêng quả khô tự mở nên hái trước lúc khô héo, nếu để lâu quả sẽ nứt làm rơi hạt hoặc gặp mưa hạt sẽ nảy mầm.
10 Thu hái dược liêu có chứa chất độc
Khi thu hái các dược liệu chứa chất độc, phải trang bị đầy đủ dụng . cụ bảo hộ lao động khi làm việc nhất thiết phải đeo kính, găng tay.. để đảm bảo an toàn cho người thu hái.

Saturday, September 5, 2015

Cây Bạc hà

Tên khác:  Bạc hà nam, Húng cây
Tên khoa học:  Mentha arvensis L.
Họ:  Bạc hà (Lamiaceae)
1. Mô tả, phân bố :

Thân cỏ đứng, cao 30-60 cm, có thân ngầm, phân nhánh nhiều, cây có mùi thơm dễ chịu. Thân vuông, nhẹ, xốp, nhẵn, đường kính khoảng 0,2-0,4 cm. Thân chia đốt, khoảng cách giữa các mấu khoảng 3-7 cm, màu nâu tím hoặc xanh xám, có nhiều lông tơ ở đoạn non và nhẵn ở gần gốc. Mặt cắt ngang có màu trắng, thân già đôi khi rỗng ở giữa. Lá mọc đối chéo chữ thập, phiến lá hình bầu dục hai đầu nhọn, dài 3-6 cm, rộng 1,5-3 cm; cuống lá dài 0,5-1,5 cm, bìa lá có răng cưa nhọn khoảng 2/3 về phía trên. Gân lá hình lông chim, gân phụ 4-5 đôi, mặt trên xanh đậm hơn mặt dưới. Hai mặt đều có lông và có nhiều chấm nhỏ (lông tiết). Cụm hoa là xim co mọc ở nách lá phía ngọn cành; cụm hoa ở phía dưới gần hình cầu có đường kính 15-18 mm, cuống chung dài 2-5 mm; những cụm hoa phía trên gần ngọn hợp thành vòng giả. Lá bắc hình bầu dục thon hẹp, ngắn hơn hay bằng đài. Đài hình chuông, dài 2-2,5 mm, có các điểm tuyến và lông rải rác ở phía ngoài, 5 thùy nhọn, gần bằng nhau. Tràng màu trắng, dài 4-5 mm, nhẵn ở phía ngoài, có lông ở họng; 5 thùy, hợp với nhau thành ống ngắn phía dưới, 2 thùy phía trên lớn, dính nhau gần như hoàn toàn chỉ chia 2 thùy cạn giống như khuyết ở đỉnh, 3 thùy dưới nhỏ và xẻ thùy sâu hơn. Nhị 4, bằng nhau, thò khỏi tràng, chỉ nhị nhẵn, màu trắng. Bao phấn hình hạt đậu, màu vàng nâu, 2 ô song song, nứt dọc, hướng trong. Hạt phấn rời, hình cầu hay bầu dục, nhiều rãnh ngoằn nghèo, đường kính 27,5-30 μm. Lá noãn 2, bầu 2 ô, sau có vách giả chia thành 4 ô, mỗi ô 1 noãn, đính đáy. Vòi nhụy màu trắng dài hơn nhị, đầu nhụy xẻ 2 thùy. Quả bế tư đựng trong đài tồn tại, quả hình trứng, dài 0,6-0,8 mm, màu nâu
Cây Bạc hà Thường gặp ở các nước châu Âu, châu Á. Trồng ở hầu khắp các tỉnh và thành phố như: Sơn La, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Hà Tây… Mùa hoa tháng 6-9, mùa quả tháng 10-11. Cây ưa sáng và ẩm, thích hợp với đất phù sa, đất thịt.
2. Bộ phận dùng:
Dược liệu dùng là lá hay cây đã bỏ rễ phơi khô(Folium et Herba Menthae arvensis) . Cây được chặt thành những đoạn dài tối đa là 30 cm. Loại bỏ tạp chất, phun nước cho hơi ẩm, ủ hơi mềm, cắt thành đoạn ngắn, sấy khô ở nhiệt độ thấp. Trước khi dùng có thể sao ở nhiệt độ thấp hơn 60 oC. Dược liệu có mùi thơm dễ chịu, vị cay nhẹ, sau mát.
3. Thành phần hóa học:
Tinh dầu bạc hà là hoạt chất chính với hàm lượng 0,5-1%. Tinh dầu không màu hay vàng nhạt, có mùi bạc hà đặc biệt, vị cay, sau mát. Tinh dầu bạc hà di thực vào Việt Nam chứa sabinen, myrcen, α-pinen, limonen, cineol, methylheptenon, menthon, isomenthol, menthyk acetat, neomenthol, menthol, isomenthon, pulegon.
4. Tác dụng dược lý - Công dụng:
Tinh dầu và menthol dùng trong trường hợp đau dây thần kinh, có tác dụng sát khuẩn mạnh. Dùng trong những bệnh ngoài da, tai mũi họng, ngứa. Đối với trẻ em, tinh dầu và menthol bôi mũi hay cổ họng có thể gây ngừng thở và tim ngừng đập. Bạc hà có tác dụng kháng vi khuẩn in vitro đối với các chủng vi khuẩn tả Vibrio cholerae. Các chất menthol và menthon ức chế sự vận động của đường tiêu hóa, làm giãn mao mạch.
Công dụng: Trị ngoại cảm phong nhiệt, phát sốt không ra mồ hôi, nhức đầu, nghẹt mũi, ho, viêm họng sưng đau, đau bụng đi ngoài. Tinh dầu và menthol có tác dụng sát khuẩn, xoa bóp nơi sưng đau như khớp xương, thái dương khi nhức đầu. Nước hãm lá dùng điều trị bệnh thấp khớp và chứng ăn không tiêu. Tinh dầu đã loại menthol được dùng làm nước thơm súc miệng, kem đánh răng.

CÂY XUYÊN KHUNG


Tên khoa học: Ligusticum wallichii Franch.      
Họ hoa tán: Apiaceae
Tên vị thuốc: Xuyên khung.
Tên khác: Tăng ky, Khung cùng.
1. Đặc điểm thực vật

Xuyên khung là loại cây nhỏ sống lâu năm, thân cao trên 1 m, mọc thành khóm thân cành rỗng, có đốt, thường có từ 7 - 9 đốt, đốt nổi thành u và có chồi. Lá mọc so le, hình kép lông chim, có khía sâu, mầu lá xanh nhạt, cuống lá có bẹ ôm lấy thân cây. Sau khi trồng 7 - 8 tháng cây ra hoa, hoa nhỏ mầu trắng, có nhiều cánh. Quả bế hình trắng, thân củ dùng làm dược liệu hình tròn nhưng không theo một quy cách nhất định nào, có nhiều rễ, khi khô vỏ xù xì.
Mùa hoa: tháng 7 - 10.
2. Điều kiện sinh thái và phân bố
Xuyên khung có nguồn gốc từ Trung Quốc, nhập nội vào Việt Nam từ năm 1960. Trại thuốc Sapa, Trại thuốc Tam Đảo thuộc Viện Dược liệu đã tiến hành nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng trọt và nhân giống. Từ những kết quả đó đã đưa Xuyên khung vào sản xuất đại trà ở một số vùng núi cao của các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Sơn La, Lào Cai, Thanh Hoá.
Xuyên khung ưa khí hậu ôn hoà mát mẻ quanh năm, nơi có độ cao so với mặt nước biển từ 800 m trở lên. Nhiệt độ trung bình trong năm từ 15- 20oC, nhiệt độ tối đa 33oC, tối thiểu - 2oC. Lượng mưa hàng năm từ 1500 - 2000 mm, ẩm độ không khí từ 70 - 90%. Cây ưa đất mầu mỡ, tơi xốp nhiều mùn, tầng canh tác dầy, độ pH từ 6,5 - 7,5. Cây không ưa đất nặng, nhiều sỏi đá, độ dốc quá lớn, thiếu ánh sáng.
3. Thành phần hoá học
Loài L. wallichii chứa 1% tinh dầu, dầu béo, axit ferulic và một hợp chất kết tinh. Một số loài khác có chứa các phthalid; butylphthalid, butylidenphthalid, ligustilid, hợp chất có N như ligustrazin, adenin, adenosin.
4. Bộ phận dùng làm thuốc
Bộ phận dùng làm thuốc là thân rễ (Rhizoma L.) của cây Xuyên khung.
5. Công dụng:
Theo y học cổ truyền
- Xuyên khung có vị cay, mùi thơm, tính ấm, quy vào 3 kinh: can, đởm, tâm bào, có tác dụng hành khí, điều kinh, hoạt huyết, trừ phong, giảm đau.
- Xuyên khung được chữa nhức đầu, hoa mắt, cảm mạo, phong thấp nhức mỏi, ngực bụng đầy trướng, phụ nữ sau khi đẻ bị rong huyết kéo dài.
- Trong y học cổ truyền Trung Quốc, Xuyên khung dùng chữa rối loạn kinh nguyệt, vô kinh, đau kinh, đau bụng, đau nhói ở vùng ngực, vùng xương sườn, viêm đau do chấn thương, nhức đầu, đau khớp dạng thấp.
Theo y học hiện đại
- Các phthalid; butylphthalid, butylidenphthalid, ligustilid có tác dụng ức chế sự co bóp tử cung của chuột cống trắng không mang thai gây ra bởi prostaglandin và cũng biểu lộ hoạt tính chống loạn nhịp, gây giãn động mạch vành.
- Ligustrazin (tetramethylpyrazin) có một số tác dụng:
- Ức chế sự kết tập tiểu cầu do tác động đến các yếu tố gây đông máu và sự hình thành thromboxan, chuyển Ca2+ khỏi màng tiểu cầu. Do vậy, nó có khả năng dự phòng đông máu ở động mạch.
- Nghiên cứu về dược lí và lâm sàng cho thấy khả năng làm vi tuần hoàn trong mạc treo ruột thỏ, làm giãn mao mạch trên in vitro. Có tác dụng tốt trong điều trị bệnh tắc mạch máu não, nghẽn mạch não.
- Tác dụng ức chế sự co bóp của tử cung, nhưng tác dụng này bị phong bế bởi propranolol, không phong bế bởi cimetidin.
- Nghiên cứu lâm sàng trên 49 bệnh nhân bị bệnh tim phổi nặng, cho thấy kết quả điều trị như sau: Có tác dụng làm giảm huyết áp động mạch phổi và sức đề kháng của mạch máu phổi, hay tác dụng giãn mạch máu phổi và tăng chất lượng lưu huyết của bệnh tim phổi trong nghẽn phổi mãn tính.
- Axit ferulic trong Xuyên khung cũng có tác dụng ức chế sự co bóp cơ trơn tử cung.
- Cao và nước sắc Xuyên khung có tác dụng làm tăng khả năng biến dạng, tăng sức bền của hồng cầu.
- Rễ Xuyên khung có tác dụng chống đông máu chung, ức chế các giai đoạn đông máu nội sinh và ngoại sinh và sự tạo fibrin.
- Có tác dụng giảm huyết áp trên mèo gây mê bằng chloral hydrat, do tác dụng trực tiếp trên cơ trơn thành mạch.
- Xuyên khung còn có tác dụng giảm cholesterol máu trong mô hình gây tăng cholesterol máu ngoại sinh trên chuột nhắt và chuột cống trắng.
- Trong điều trị huyết khối não, Xuyên khung cho thấy tác dụng làm giảm độ nhớt của máu, độ nhớt của huyết thanh, tỷ lệ thể tích huyết cầu, tăng tốc độ điện di hồng cầu, giảm tỷ lệ kết tập tiểu cầu. Sau điều trị dài ngày, không thấy tác dụng không mong muốn.
- Nước sắc Xuyên khung có tác dụng ức chế co thắt cơ trơn ruột thỏ cô lập gây bởi histamin và acetylcholin, có tác dụng lợi tiểu.
- Tinh dầu Xuyên khung có tác dụng kháng khuẩn với một số chủng: phế cầu, liên cầu tan máu, tụ cầu vàng, trực khuẩn mủ xanh…

Contributors

Powered by Blogger.

 

© 2015 Dược Liệu Việt Nam. All rights resevered. Designed by Templateism

Back To Top